Thứ tự mười nguyên soái khai quốc của cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Mao Trạch Đông từng viết “Họng súng đẻ ra chính quyền”. ĐCS TQ giành chiến thắng nhờ vào quân đội (Hồng Quân), Mao Trạch Đông có được giang sơn trên lưng ngựa, nhờ những chiến công của vô số tướng sĩ đổ xương máu trên chiến trường.

Mao Trạch Đông (1893 – 1976)

Sau khi lập quốc, đến năm 1955 quân đội Trung Quốc mới thực hiện chế độ quân hàm. Với một quân đội khổng lồ lên đến hàng triệu người, hàng ngàn viên chiến tướng, với hàng ngàn trận đánh, việc chọn ra 10 người đứng đầu để phong hàm Nguyên soái không phải là chuyện dễ dàng. Việc này đã khiến Mao Trạch Đông cùng Lưu Thiêu Kỳ, Chu Ân Lai tốn không ít công sức cân, đo, đong, đếm. Nếu nhìn vào danh sách được chọn, có thể thấy tiêu chuẩn của Mao đó là người được chọn ngoài người đứng đầu quân đội như Tổng Tư Lệnh, Tổng Tham Mưu Trưởng thì ít nhất cũng phải là Tư Lệnh một Tập Đoàn Quân / Phương Diện Quân, Tư Lệnh Đại Quân Khu hoặc Tư Lệnh 1 Chiến dịch lớn.

Sau đây là danh sách 10 Nguyên Soái được chọn

  1. Chu Đức:

Chu Đức (1886 – 1976)

Chu Đức được coi là “Anh cả của Hồng Quân Trung Hoa”, là Tổng Tư Lệnh, cùng với Mao sáng lập Căn cứ thánh địa đầu tiên Tĩnh Cương Sơn. Lúc đó quân đội Tĩnh Cương Sơn còn gọi là “Hồng quân Chu – Mao”, Chu Đức ngồi ngang hàng Mao Trạch Đông. Mao gọi Chu Đức là “Chu Lão Tổng” cũng cho thấy thân phận Chu đặc biệt. Dù là thời kỳ nội chiến hay thời kháng Nhật thì Chu Đức vẫn là Tổng Tư Lệnh. Ngôi số 1 của Chu Đức không cần bàn cãi.

  1. Bành Đức Hoài:

Bành Đức Hoài (1898- 1974)

Bành cũng là chỉ huy quân đội Trung Cộng từ những ngày đầu. Thời Tĩnh Cương Sơn và thời kỳ trường chinh, Bành là Tư lệnh Quân Đoàn 3, là cánh quân luôn đi đầu xung phong đánh mở đường. Thời kháng Nhật, Bành Đức Hoài là Phó Tổng Tư Lệnh Bát Lộ Quân, chỉ xếp sau Chu Đức. Thời nội chiến Quốc – Cộng lần 2, Bành là Tư Lệnh kiêm Chính Ủy Dã Chiến Quân số 1 (tức Tập đoàn Quân Dã Chiến Tây Bắc). Khi lập quốc, Bành làm Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Khi nổ ra Chiến tranh Triều Tiên, Bành chỉ huy quân đội TQ vượt sông Áp Lục đẩy quân đội Mỹ chạy ngược về phía nam bán đảo. Công lao thật khó kể hết. Bành ngồi ghế số 2 chủ yếu do nể Chu Đức là “anh cả của Hồng quân”. Từng là Tư lệnh kiêm Chính ủy Chí nguyện quân Triều Tiên, Bộ trưởng Quốc phòng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, trong Cách mạng Văn hóa đã bị đấu tố tàn khốc, bị giam giữ và chết vì bệnh ung thư ngày 29/11/1974. Đến tháng 12/1978, ông được minh oan và khôi phục danh dự.

  1. Lâm Bưu:

Lâm Bưu (1907-1971)

Lâm được coi là chiến tướng số 1 của Hồng quân TQ, là vị chỉ huy “bách chiến bách thắng”. Năm 25 tuổi Lâm Bưu đã là Tư Lệnh Quân Đoàn 1, cánh quân vốn liếng lập nghiệp của Mao. Trong các trận đánh lớn hay hành quân lớn, Bành Đức Hoài dẫn quân đánh mở đường còn Lâm Bưu chỉ huy đánh đoạn hậu. Bành sở trường đánh trực diện, xáp lá cà, chơi trận địa chiến, biển người; còn Lâm Bưu khét tiếng giỏi về lối đánh tập kích, chia cắt, vu hồi. Mao gọi Lâm Bưu là Hàn Tín cũng cho thấy tài năng quân sự của Lâm. Thời kháng Nhật, Lâm chỉ huy Bát Lộ Quân đánh tập kích quân Nhật 1 trận đẫm máu ở Bình Hình quan. Từ đó người TQ mới dám đánh nhau sòng phẳng với quân đội Thiên hoàng. Thời nội chiến lần 2, Lâm Bưu là Tư lệnh Dã Chiến Quân số 4 (Dã Chiến Quân Đông Bắc), là cánh quân thiện chiến nhất và cũng đối đầu với đội quân mạnh nhất của phe Quốc Dân đảng tại vùng Đông bắc. Kết quả là Lâm Bưu đã quét sạch quân của Tưởng tại đây, rồi kéo xuống chiếm Bắc Kinh, Thiên Tân, sau đó tràn xuống phía nam, vượt sông Dương Tử, truy đuổi quân QDĐ tới tận đảo Hải Nam. Lâm Bưu ngồi ghế số 3 dù là người trẻ tuổi nhất.

  1. Lưu Bá Thừa:

Lưu Bá Thừa (1892 – 1986)

Lưu Bá Thừa là Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên vào thời kỳ ở Khu Xô Viết Giang Tây và thời trường chinh. Thời kháng Nhật, Lưu Bá Thừa là 1 trong 4 Tư Lệnh của 4 cánh quân lớn (3 người kia là Hạ Long, Lâm Bưu, Từ Hướng Tiền). Thời nội chiến, Lưu là Tư Lệnh Dã Chiến Quân số 2 (Dã Chiến Quân Trung Nguyên). Đặng Tiểu Bình là Chính Ủy. Năm 1947, cánh quân này vượt sông Hoàng Hà tiến xuống vùng Đại Biệt Sơn, đánh thọc sâu vào vùng lãnh thổ cho QDĐ kiểm soát, tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến. Sau đó Lưu chỉ huy cánh quân này vượt sông Trường Giang, đánh chiếm 2 bờ Dương Tử, rồi tiến quân vào miền nam Tứ Xuyên, Vân Nam, Tây Tạng. Gần nửa lãnh thổ TQ được giải phóng nhờ cánh quân này. Lưu Bá Thừa ngồi ghế thứ 4 cũng xứng đáng.

  1. Hạ Long:

Hạ Long (1896 – 1969)

Hạ Long là Tổng Chỉ Huy cuộc khởi nghĩa Nam Xương (ngày 1/8/1927) mà từ đó được chọn làm ngày thành lập quân đội giải phóng TQ. Sau đó Hạ Long xây dựng căn cứ tại vùng Hồ Bắc, xây dựng quân đội về sau phát triển thành Phương Diện Quân số 2 mà Hạ làm Tư Lệnh. Thời kháng Nhật, Hạ Long làm Tư Lệnh kiêm Chính Ủy Sư đoàn 120 Bát Lộ Quân. Thời nội chiến, Hạ Long làm Tư lệnh Liên quân Biên khu Thiểm Cam Ninh (Thiểm Tây – Cam Túc – Ninh Hạ). Mao thường so sánh Lâm Bưu với Hàn Tín và so Hạ Long với Nhạc Phi. Mao từng nói “Hạ Long khởi nghiệp với 2 con dao phay đi làm cách mạng, phát triển lực lượng thành cả một tập đoàn quân (Phương Diện Quân 2)”. Nên biết rằng phần lớn các lãnh đạo TQ thuộc Phương Diện Quân 1, còn Hạ Long một mình tạo nên Phương Diện Quân 2, có vai trò lớn trong lịch sử ĐCSTQ. Cho nên Hạ Long ngồi ghế thứ 5.

  1. Trần Nghị:

Trần Nghị (1901 – 1972)

Trần Nghị là Nguyên soái duy nhất không tham gia cuộc Vạn Lý trường chinh vì khi đó ông bị thương và ở lại miền Nam, chỉ huy 10 vạn quân đánh du kích. Về sau lực lượng này phát triển thành Tân Tứ Quân trong thời kháng Nhật, hoạt động ở vùng hạ lưu Trường Giang (còn bát Lộ Quân hoạt động ở miền Bắc TQ). Sang thời nội chiến, Trần Nghị làm Tư Lệnh Dã Chiến Quân số 3 (Dã Chiến Quân Hoa Đông) hoạt động ở các tỉnh vùng duyên hải, từ bán đảo Sơn Đông qua Giang Tô, Thượng Hải xuống Triết Giang, Phúc Kiến. Trong chiến dịch Hoài Hải, Trần Nghị dẫn quân vượt sông Dương Tử đánh chiếm thủ đô Nam Kinh của QDĐ, giải phóng Thượng Hải. Vì vậy, Trần Nghị ngồi ghế số 6.

  1. La Vinh Hoàn:

La Vinh Hoàn (1902 – 1963)

Khác với những người còn lại, La Vinh Hoàn là Nguyên soái phụ trách chính trị chứ không trực tiếp cầm quân đánh trận, thường làm Chính Ủy hoặc Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị (giống Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh của VN). Thời nội chiến, La Vinh Hoàn là Chính Ủy Dã Chiến Quân số 4 vùng Đông Bắc (Lâm Bưu làm Tư Lệnh) – cánh quân mạnh nhất của Hồng quân TQ. Sau khi lập quốc, La là Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị – 1 vị trí cực kỳ quan trọng trong các nước do ĐCS lãnh đạo. Mao đặc biệt rất tôn trọng La Vinh Hoàn, thường hỏi ý kiến La khi Mao gặp tình huống khó xử. La Vinh Hoàn do đó được ngồi ghế số 7.

  1. Từ Hướng Tiền:

Từ Hướng Tiền (1901 – 1990)

Từ Hướng Tiền là Nguyên soái duy nhất đến từ miền Bắc TQ (Sơn Tây). 9 người còn lại đều là người miền Nam. Ngoài ra, khác với đa số lãnh đạo và các tướng soái khác, Từ Hướng Tiền lại là Chỉ huy Phương Diện Quân số 4 – đạo quân mang tiếng là “phản loạn” do Trương Quốc Đào lãnh đạo. Vậy mà Từ Hướng Tiền vẫn được trọng dụng và lại còn được Mao Trạch Đông phong soái, điều đó cho thấy tài năng đặc biệt của Từ. Từ Hướng Tiền nổi tiếng là vị chỉ huy thường lấy ít thắng nhiều – khác với tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông và phần lớn tư lệnh Hồng Quân TQ khác (luôn dùng số quân đông hơn để áp đảo quân địch). Trong 10 Nguyên Soái, Từ Hướng Tiền và Lâm Bưu là 2 người giỏi đánh trận nhất. Từ Hướng Tiền ngồi ghế số 8 có phần thiệt thòi, có lẽ vì cái gốc “Phương Diện Quân 4”.

  1. Nhiếp Vinh Trăn:

Nhiếp Vinh Trăn (1899 – 1992 )

Thời kỳ đầu, Nhiếp Vinh Trăn là Chính Ủy của Quân Đoàn 1 mà Lâm Bưu là Tư lệnh. Đến thời kháng Nhật, Nhiếp làm sư đoàn phó sư đoàn 115 của Bát Lộ Quân, cũng do Lâm Bưu Tư Lệnh.Trong thời nội chiến TQ, Nhiếp chỉ huy Hồng quân tại các chiến trường miền Bắc TQ (Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam, Thiên Tân, Bắc Kinh). Nhiếp Vinh Trăn là cấp trên của Từ Hướng Tiền trong thời gian này. Nhưng khi phong hàm soái thì ông xếp thứ 9, sau Từ.

  1. Diệp Kiếm Anh:

Diệp Kiếm Anh (1897 – 1986)

Diệp Kiếm Anh từng là một lãnh đạo quân sự của Quân Quốc Dân đảng, giảng viên Trường Quân sự Hoàng Phố. Nhưng sau đó ông gia nhập ĐCS TQ. Diệp Kiếm Anh là Nguyên soái chuyên về tham mưu (giống như Đại Tướng Hoàng Văn Thái của VN). Gần như nửa sự nghiệp của Diệp Kiếm Anh là giữ vai trò Tham Mưu Trưởng (Chiến tranh Bắc phạt, Vạn lý trường chinh, thời kháng Nhật, nội chiến TQ và sau khi lập quốc). Mao gọi Lâm Bưu là Hàn Tín, gọi Hạ Long là Nhạc Phi, và gọi Diệp Kiếm Anh là Khổng Minh vì mưu lược và sự thận trọng của Diệp. Vì vậy Diệp Kiếm Anh đã được phong hàm soái, ngồi ghế cuối cùng.

Những người từ chối phong hàm Nguyên soái. 

Khác với Stalin và Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông từ chối hàm Đại Nguyên Soái, theo Mao là vì nếu nhận hàm Đại Nguyên Soái thì sẽ khó tiếp cận với quần chúng nhân dân. Một lãnh đạo nổi tiếng khác từ chối hàm Nguyên soái là Đặng Tiểu Bình.

Đặng Tiểu Bình (1904 – 1997)

Nên nhớ Đặng là Chính Ủy Dã Chiến Quân số 2 (Lưu Bá Thừa là Tư Lệnh). Trong Chiến dịch Hoài Hải với sự tham gia của 2 tập đoàn quân Dã chiến số 2 (Trung Nguyên) và số 3 (Hoa Đông), Đặng Tiểu Bình là Bí Thư Đảng Ủy, là người đứng đầu chiến dịch, xếp trên cả Lưu Bá Thừa, Trần Nghị. Cho nên lẽ ra Đặng sẽ được phong hàm Nguyên soái, xếp trong Top 5. Nhưng Đặng từ chối mà không rõ lý do.

Còn một người không từ chối nhưng không được chọn vào Top 10, đó là Túc Dụ – người chỉ huy Dã Chiến Quân Hoa Đông cùng với Trần Nghị.

Túc Dụ (1907 – 1984)

Túc Dụ cũng là vị tướng nổi tiếng giỏi đánh trận của Hồng quân TQ. Túc là người được Mao giao trọng trách chỉ huy quân đội giải phóng đảo Đài Loan. Nhưng sau đó kế hoạch này bị Mao bãi bỏ. Hẳn là Mao đã rất khó xử khi lựa chọn giữa Túc Dụ và Diệp Kiếm Anh cho vị trí Nguyên soái thứ 10. Để bù đắp, Túc Dụ được đứng đầu trong Top 10 Đại Tướng (cấp hàm xếp sau hàm Nguyên soái). (Bài viết chỉ mang tính chất lịch sử, không liên quan gì đến chính trị)

Tham gia bình luận:

0963.656.058